• Gói Luật sư Tư vấn Pháp lý Thường xuyên cho các Doanh nghiệp chỉ từ sáu triệu đồng mỗi tháng

      Gói Luật sư tư vấn pháp lý ưu đãi giành cho cá nhân chỉ từ một triệu đồng mỗi tháng.

    Lỗ hổng liên quan đến quyền khởi kiện lại

  • Thứ tư, 17:28 Ngày 19/09/2018
  • Đăng trên Thời báo kinh tế Sài Gòn, số ra thứ hai ngày 27/11/2016

    Link: https://www.thesaigontimes.vn/154219/Lo-hong-lien-quan-den-quyen-khoi-kien-lai.html

    (TBKTSG) - Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS) thì nguyên đơn là người khởi kiện trong vụ án khi tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, sau đó nếu muốn thì vẫn được quyền nộp đơn khởi kiện lại (khoản 1, điều 218 và điểm c, khoản 1, điều 217 BLTTDS). Sau khi tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện thì toàn bộ tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ (khoản 3, điều 218 BLTTDS).

    Quy định này của BLTTDS nhằm tạo điều kiện cho các đương sự chủ động tự giải quyết tranh chấp cũng như tạo cơ hội cho người khởi kiện vẫn có cơ hội khởi kiện lại để bảo vệ quyền lợi của mình nếu sau khi “lỡ” rút đơn kiện mà người bị kiện không thực hiện nghĩa vụ của họ.

    Tuy nhiên trong một số trường hợp, quy định này đã bị người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bị kiện lợi dụng nhằm trục lợi, dẫn đến gây khó khăn cho tòa án trong việc giải quyết vụ án cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba ngay tình, nhất là đối với các ngân hàng là bên cho vay có bảo đảm bằng tài sản.

    Trên thực tế rất thường xảy ra trường hợp khi ngân hàng khởi kiện bên vay và yêu cầu tòa án tuyên phát mãi tài sản bảo đảm thì bên bảo đảm cấu kết với bên thứ ba hoặc với bên vay nhằm tìm cách kéo dài quá trình giải quyết vụ án để bên bảo đảm có thêm thời gian tiếp tục khai thác hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản bảo đảm (như tiền cho thuê văn phòng, căn hộ, quầy sạp cho thuê, mặt bằng cho thuê...).

    Cụ thể, bên bảo đảm và bên thứ ba tạo ra một giao dịch dân sự giả cách liên quan đến tài sản bảo đảm (bên bảo đảm và bên thứ ba có thể ký hợp đồng mua bán tài sản thông qua hợp đồng/giấy tay và lấy thời điểm lùi lại - trước khi thế chấp tài sản cho ngân hàng). Rồi trong quá trình vụ kiện của ngân hàng đang được giải quyết hoặc đang trong quá trình thi hành án thì bên thứ ba này khởi kiện bên bảo đảm ra tòa về việc tranh chấp quyền sở hữu đối với tài sản. Sau khi tòa án thụ lý vụ án thì bên bảo đảm thông báo cho tòa án hoặc cơ quan thi hành án đang giải quyết vụ kiện của ngân hàng để yêu cầu tòa án hoặc cơ quan thi hành án đó tạm dừng giải quyết vụ án/việc thi hành án để chờ kết quả giải quyết tranh chấp giả nêu trên về quyền sở hữu tài sản giữa bên bảo đảm và bên thứ ba.

    Sự phức tạp sẽ không chỉ dừng ở đó mà tiếp tục rắc rối hơn khi vụ án giải quyết tranh chấp giả nêu trên đã giải quyết được một thời gian thì bên thứ ba (đương nhiên đã được sự đồng ý của bên bảo đảm) lại chủ động rút đơn khởi kiện để tòa án này đình chỉ giải quyết vụ án. Sau khi nhận xong tiền tạm ứng án phí đã nộp thì bên thứ ba này lại tiếp tục nộp đơn khởi kiện lại và thế là tòa án phải thụ lý, giải quyết vụ việc lại từ đầu theo thủ tục tố tụng. Bên thứ ba cứ “nộp” và “rút” đơn kiện như một vòng tuần hoàn thì vụ án/việc thi hành án của ngân hàng sẽ không thể giải quyết được.

    Trong khi đó, đến ngày 1-1-2017, Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) có hiệu lực. BLDS 2015 có quy định một số trường hợp sẽ không áp dụng thời hiệu khởi kiện, như yêu cầu về bảo vệ quyền sở hữu, tranh chấp quyền sử dụng đất, bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản (khoản 1, 2 và 3 điều 155 BLDS 2015).

    Các đối tượng nêu trên càng có thêm điều kiện để lợi dụng nhằm kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
    Thiết nghĩ, để có thể khắc phục được tồn tại nêu trên, Tòa án Nhân dân tối cao cần sớm có hướng dẫn theo hướng nếu vụ kiện của ngân hàng đang được giải quyết tại tòa thì vụ kiện của bên thứ ba phải được nhập vào vụ kiện của ngân hàng để giải quyết trong cùng một vụ án. Khi đó, cho dù bên thứ ba này có rút đơn kiện thì vụ án của ngân hàng vẫn được tiếp tục mà không bị gián đoạn.

    Trong trường hợp vụ kiện của ngân hàng đã có bản án có hiệu lực và đang trong giai đoạn thi hành án thì cần có quy định theo hướng cơ quan thi hành án vẫn tiếp tục tiến hành thủ tục xử lý tài sản bảo đảm và thu nợ cho ngân hàng. Số tiền thanh toán cho ngân hàng nếu còn dư thì cơ quan thi hành án sẽ giữ lại (cơ quan thi hành án có thể gửi tại một ngân hàng khác theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ) cho đến khi có kết quả giải quyết vụ án giữa bên thứ ba và bên bảo đảm hoặc trường hợp bên thứ ba rút đơn kiện thì cơ quan thi hành án chuyển trả số tiền cùng lãi phát sinh (nếu có) cho bên bảo đảm.

    Bài viết liên quan